Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013
Thoái hóa cột sống thắt lưng: Nguyên nhân và ảnh hưởng

Thoái hóa cột sống thắt lưng: Nguyên nhân và ảnh hưởng

Thoái hóa cột sống thắt lưng là một bệnh rất phổ biến. Bệnh này không nguy hiểm, không gây chết người, nhưng có tính chất dai dẳng gây cho bệnh nhân cảm giác đau đớn khó chịu, người bệnh bị hạn chế vận động vùng thắt lưng, gây giảm sức khỏe, giảm khả năng học tập, lao động và sản xuất.


1. Những biểu hiện của bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng:

Phần lớn bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng là do những tổn thương của đĩa đệm gây nên. Tùy thuộc vào mức độ hư đĩa đệm mà có các biểu hiện như:

- Đau lưng xuất hiện đột ngột sau chấn thương, vận động quá mức, hoặc sau khi bị mắc mưa, bị lạnh.

- Đau ở phần cột sống thắt lưng, đau nhiều nên cúi không được, ngồi xuống không đứng lên ngay được.

- Đau dữ dội, hoặc âm ỉ làm hạn chế vận động, đứng vẹo qua một bên.

- Đau tăng xuất hiện khi vận động, thay đổi thời tiết, ho hay trở mình cũng đau. Thường xuất hiện từng đợt kéo dài rồi giảm và hết, sau đó lại xuất hiện đợt khác sau khi vận động nhiều ở khớp và quanh khớp, kết hợp với tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của cột sống.

- Kèm theo co cứng cơ cạnh cột sống.

2. Nguyên nhân dẫn đến thoái hóa cột sống thắt lưng:

- Sự lão hóa: là nguyên nhân chính, theo quy luật tự nhiên các tế bào sụn cột sống với thời gian tích tuổi lâu dần sẽ già, khả năng sinh sản và tái tạo sụn sẽ giảm dần và hết hẳn, chất lượng sụn kém dần, tính đàn hồi và chịu lực giảm. Bệnh thường xuất hiện muộn, thường ở người trên 60 tuổi, tiến triển chậm, tăng dần theo tuổi, mức độ không nặng.

- Yếu tố cơ giới: là yếu tố thúc đẩy sự thoái hóa nhanh, thể hiện ở sự tăng bất thường lực nén trên một diện tích của mặt đĩa đệm cột sống, là yếu tố chủ yếu trong thoái hóa cột sống thứ phát, gồm:

+ Các dị dạng bẩm sinh làm gù vẹo cột sống, làm thay đổi diện tích tỳ nén bình thường của cột sống.

+ Các biến dạng sau chấn thương, viêm, u làm thay đổi hình thái, tương quan của cột sống. 

+ Sự tăng trọng tải: tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp.

- Các yếu tố khác:

+ Di truyền: cơ địa già sớm.

+ Nội tiết: mãn kinh, tiểu đường, loãng xương, dùng thuốc corticoid.

+ Chuyển hóa: bệnh Goutte.

3. Điều trị và phòng ngừa:

Không có thuốc điều trị quá trình thoái hóa, chỉ có thể điều trị triệu chứng, phục hồi chức năng và phòng bệnh bằng cách ngăn ngừa và hạn chế các tác động cơ giới quá mức lên cột sống.

Dùng thuốc giảm đau và chống viêm không steroid (chỉ sử dụng khi thật cần thiết), phải tuân thủ theo y lệnh điều trị của bác sĩ.

* Một số phương pháp giúp làm giảm đau tại nhà:

- Chườm ấm vùng đau bằng muối rang nóng hoặc bó thuốc (gồm: lá ngải cứu, lá ngũ trảo, lá lốt, gừng tươi giã nát xào với rượu) 1 - 2 lần/ngày.

- Xoa bóp đơn giản, tập vận động nhẹ nhàng vùng cột sống thắt lưng.

- Nằm nghỉ tại giường khi đau nhiều, nằm ngửa trên ván cứng, hai chân duỗi thẳng đầu kê gối thấp.

- Dùng gậy, nạng khi đi lại nhằm mục đích làm giảm áp lực đè nặng lên bề mặt khớp.

* Phòng ngừa:

- Chống các tư thế xấu trong lao động và sinh hoạt.

- Tránh các động tác quá mạnh, đột ngột và sai tư thế khi mang, vác, đẩy, xách, nâng...

- Chống béo phì bằng chế độ dinh dưỡng thích hợp.

- Kiểm tra sức khỏe định kỳ những người làm lao động nặng dễ bị thoái hóa khớp để phát hiện và điều trị sớm.

- Chế độ ăn: trái cây, rau quả nhiều dinh dưỡng, giàu calci như: tôm, cua, cá biển...

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013
Bệnh tiểu đường có lây không?

Bệnh tiểu đường có lây không?

Sẽ có rất nhiều người thắc mắc liệu bệnh tiểu đường có bị lây hay không? Và có thể chữa khỏi bệnh tiểu đường hay không?


Câu trả lời cho câu hỏi trên sẽ là:
Bệnh tiểu đường hoàn toàn không lây vì tiểu đường không phải căn bệnh truyền nhiễm. Mà tiểu đường chỉ là một căn bệnh rối loạn chuyển hóa mạn tính glucid, protid và lipid do nguyên nhân thiếu insulin hoặc insulin kém chất lượng, nó được xếp vào nhóm bệnh nội tiết chuyển hóa.
Điều trị thoái hoá cột sống

Điều trị thoái hoá cột sống

Thoái hoá cột sống là gì?

 
Cột sống là khung đỡ của toàn bộ cơ thể. Theo năm tháng, do ảnh hưởng từ môi trường, chế độ ăn uống, tư thế vận động, sinh hoạt, luyện tập và chịu sức nặng cơ thể mà bị yếu đi, lão hoá và sức nâng đỡ kém.
 
Những yếu tố nào đã đẩy nhanh quá trình thoái hoá cột sống của con người?
 
- Điều kiện sống khó khăn, ăn uống không đầy đủ.
 
- Làm việc, lao động nặng quá sớm và quá sức. Ví dụ như mang vác, gồng gánh nặng từ lúc 12, 13 tuổi, khi mà khung xương còn đang trong giai đoạn phát triển, chưa định hình, hoàn thiện.
 
- Tập luyện thể dục, thể thao không hợp lý.
 
- Thường xuyên mang, vác, đẩy, kéo các vật nặng không đúng tư thế.
 
- Ngồi quá nhiều hoặc luôn luôn làm việc ở một tư thế ít thay đổi.
 
- Trọng lượng quá mức cho phép khiến cột sống luôn phải gắng đỡ cơ thể.
 
- Thông thường, bệnh xuất hiện ở người có tuổi từ 35, 40 trở lên. Tỷ lệ bị thoái hoá cột sống ở nam và nữ là gần như nhau mặc dù nguyên nhân là tương đối khác nhau ở hai giới. Nếu như ở nam giới phần lớn là do lao động nặng, chơi thể thao quá độ, thì nữ giới là do thiếu hụt canxi, hậu quả của việc mang thai và sinh nở mà không được bù đắp kịp thời và đầy đủ.
 
Biểu hiện của thoái hoá cột sống
 
- Biểu hiện rõ rệt nhất là những cơn đau lưng xuất hiện thường xuyên, cảm giác khó chịu, bức bối trong cơ thể, dáng đi không bình thường, vẹo vọ hoặc lưng còng xuống... Nếu gặp phải những hiện tượng như vậy, có thể bạn đã bị thoái hoá cột sống.
 
- Nếu như đau lưng do bị thận hoặc một số bệnh khác thường diễn ra theo cơn, dữ dội, thì đau lưng do thoái hoá cột sống lại thường âm ỉ, rả rích ngày này qua tháng khác. Đau chủ yếu ở vùng thắt lưng và cổ, gáy. Cảm giác khó chịu kèm theo khiến bạn mất ăn, mất ngủ, gầy rộc đi, sức làm việc giảm sút và ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của cả mọi người xung quanh.
 
- Đôi khi có những cơn đau cấp tính khiến bạn cảm thấy nhói buốt, đau cả sang những vùng khác như vai, thần kinh toạ, đau hông và đùi đến mức không thể đi lại lâu được.
 
Khống chế những cơn đau lưng và khó chịu do thoái hoá cột sống bằng cách nào?
- Có nhiều phương pháp được sử dụng hiện nay tại các bệnh viện là: Dùng thuốc, thuỷ châm, châm cứu, kéo giãn cột sống, vật lý trị liệu v.v... Tất cả các phương pháp này đều phải được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và chỉ định thực hiện.
 
- Khi ở nhà, nếu bị đau lưng, bạn nên lập tức nằm nghỉ, thư giãn. Nhưng cũng không được nằm quá lâu khiến máu khó lưu thông, tăng cảm giác mệt mỏi. Chỉ cần cảm thấy đỡ đau là bạn đã phải đi lại đôi chút. Nói chung, người bị thoái hoá cột sống không nên ngồi một chỗ mà nên vận động nhẹ nhàng, tập thể dục vừa phải.
 
- Chườm nóng và xoa bóp được coi là biện pháp hữu hiệu tức thời. Tuy nhiên, có một sai lầm lớn là khi bị đau lưng, ta thường bóp dầu nóng, mật gấu và rượu. Làm như vậy sẽ khiến vùng bị đau có phản ứng co cơ, khiến cơn đau càng trầm trọng hơn.
 
- Khi đã cảm thấy khá hơn, bạn hãy bơi lội một chút. Theo các bác sĩ thì bơi lội chính là môn thể thao thích hợp nhất để chữa đau lưng, đặc biệt với các cơn đau cấp thì việc bơi trong bể nước ấm sẽ rất có hiệu quả.
 
- Khi đã từng bị đau lưng do thoái hoá cột sống một lần thì nên giữ gìn, không để tái phát. Vì nếu những cơn đau lặp đi lặp lại sẽ càng ngày càng nặng hơn. Đến một lúc nào đó, bạn chỉ cần đi, đứng, sinh hoạt trong tư thế hơi khác thường là đã bị đau lưng buốt nhói dữ dội.
 
- Cần ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và phải kiêng rượu, bia.
 
Phòng bệnh từ khi còn nhỏ và ngay trong cách thức sinh hoạt hàng ngày
 
- Các bậc làm cha, làm mẹ cần quan tâm đến con trẻ trong việc ăn uống sao cho đủ chất, học tập và thể thao đúng mức. Ngày nay, những yếu tố dễ dẫn đến thoái hoá cột sống sau này nếu không để ý từ khi còn bé là: trẻ có thể ngồi hàng giờ chơi games trước màn hình vi tính, xem tivi quá nhiều, ăn uống vô độ dẫn đến béo phì v.v...
 
- Với những người lao động trí óc, cứ ngồi làm việc khoảng 1 - 2 tiếng phải đứng dậy đi lại, tập một vài động tác có lợi cho lưng.
 
- Với người lao động chân tay, chú ý không mang vác quá sức. Với những vật quá nặng, không bao giờ được đứng cúi lưng để nhấc vật lên mà phải ngồi xổm xuống, nâng vật lên từ từ.
 
- Tập thể dục thường xuyên, đều đặn. Tập Thái cực quyền, bơi lội là rất tốt để phòng ngừa đau lưng do thoái hoá cột sống.
 
- Với phụ nữ có thai, việc luyện tập đúng phương pháp lại càng cần thiết để giúp cho cột sống thêm dẻo dai, tránh đau do phải đỡ thêm một phần trọng lượng lớn nữa ngoài cơ thể của chính người mẹ.
Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013
Bệnh tiểu đường tuýp 1 là gì

Bệnh tiểu đường tuýp 1 là gì

Bệnh tiểu đường tuýp 1 là gì ? Bệnh tiểu đường tuýp 1 hay còn gọi là bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin đây là dạng bệnh mãn tính do trong tuyến tụy sản xuất insulin nhưng ko đủ hoặc không có. Insulin loại nội tiết tố cần thiết để đường glucose nhập vào tế bào trong cơ thể sinh ra năng lượng.

Đối tượng mắc tiểu đường tuýp 1 là trẻ em và thanh thiếu niên dưới 30 tuổi

Nguyên nhân của bệnh tiểu đường tuýp 1 là gì ?

Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường tuýp 1 chưa được xác định rõ ràng, nhưng có thể bao gồm các yếu tố nguy cơ sau:
- Yếu tố di truyền: Những người có bố, mẹ hoặc anh chị em ruột bị bệnh tiểu đường tuýp có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 4-6 lần những người khác. Khi bố hoặc mẹ mắc bệnh thì tỷ lệ nguy cơ là 30%, khi cả bố và mẹ đều mắc thì nguy cơ là 50%. Ngoài ra xét về mặt di truyền học sự hiện diện của một số gene cho thấy tăng nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường tuýp 1.
- Yếu tố địa lý: Tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 có xu hướng tăng lên khi đi từ đường xích đạo. Những người sống ở Phần Lan và Sardinia có tỷ lệ mắc cao nhất bệnh tiểu đường tuýp 1 - khoảng 2-3 lần so với tỷ lệ tại Hoa Kỳ và 400 lần so với những người sống ở Venezuela.
- Ngoài ra còn có các yếu tố nguy cơ gây bệnh tiểu đường tuýp 1 do tiếp xúc với virut Epstein-Barr, coxsackievirus, virus quai bị hoặc cytomegalovirus có thể phá hủy các tế bào tiểu đảo, hoặc các vi rút trực tiếp có thể lây nhiễm các tế bào tiểu đảo. Cơ thể thiếu vitamin D cũng làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường tuýp 1.

Đối tượng nào dễ mắc bệnh tiểu đường tuýp 1

Đối tượng thường mắc bệnh tiểu đường tuyp 1 là trẻ em và thanh niên dưới 30 tuổi. Không giống như tiểu đường tuyp 2, tiểu đường tuyp 1 không hề liên quan đến thói quen ăn uống hoặc tập thể dục.

Tiểu đường tuýp 1 có di truyền không ?

Theo kết luận của các nhà khoa học bệnh tiểu đường tuýp 1 có thể truyền từ mẹ sang con.
Nếu cả hai cha mẹ đều mắc bệnh đái tháo đường tuýp 1 thì con cái họ có khả năng mắc bệnh này với tỷ lệ khoảng 10%.
Nếu một trong hai người bị bệnh đái tháo đường tuýp 2 (không phụ thuộc insulin) thì con cái bị bệnh tiểu đường với tỷ lệ 20%, thông thường phải 40-60 tuổi mới phát hiện bệnh.

Cách điều trị bệnh tiểu đường tuýp 1 là gì ?

Khi phát hiện ra con em mình bị tiểu đường tuýp 1 các bậc cha mẹ cần đưa trẻ đi thăm khám ở bệnh viện để có phương pháp điều trị hiệu quả. Hiện nay, hầu hết các trẻ bị bệnh thường được điều trị bằng insulin, và điều chỉnh lượng insulin theo mức độ bệnh và độ tuổi.
- Thực hiện chế độ ăn uống: Người bệnh tiểu đường tuýp 1 cần có chế độ ăn kiêng phù hợp. Nên ăn nhiều chất xơ và carbohydrates, hạn chế đồ ngọt, tinh bột, mỡ động vật.
- Luyện tập thể dục cho trẻ: Tập thể dục đều đặn hằng ngày là cần thiết cho trẻ em bị mắc bệnh tiểu đường. Do vận động nhiều sẽ làm giảm lượng đường trong máu. Hãy cho trẻ ăn bánh mỳ, uống nước ép trái cây trước khi tập thể dục.

Điều trị bệnh tiểu đường tuýp 1 với bài thuốc nam

Nhà Thuốc An Dược với bài thuốc nam chữa bệnh tiểu đường sẽ giúp bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 cắt giảm được liều dùng insulin hàng ngày đồng thời có khả năng khôi phục tuyến tụy hoạt động trở lại bình thường. Yêu cầu bệnh nhân phải thực hiện theo đúng phác đồ điều trị mà nhà thuốc đưa ra trong thời gian từ 1 -2 tháng.
Sự nguy hiểm của bệnh gai cột sống – Phẫu thuật cột sống có phải là phương pháp triệt để?

Sự nguy hiểm của bệnh gai cột sống – Phẫu thuật cột sống có phải là phương pháp triệt để?

Bệnh gai cột sống gây ra những phiền toái mà người bệnh phải gánh chịu. Khi gai cột sống tác động tới hệ thống tủy hoặc chèn ép hệ thống dây thần kinh có thể gây nên những hậu quả nặng nề.



Bệnh gai cột sống cổ và lưng:

Phẫu thuật cột sống có phải là phương pháp triệt để?

Gai cột sống là sự phát triển thêm ra của xương trên thân đốt sống, đĩa sụn, dây chằng quanh khớp do viêm khớp cột sống mạn tính, chấn thương hay sự lắng đọng canxi ở các dây chằng, gân tiếp xúc với đốt sống. Vị trí thường mọc gai là mặt trước và bên của cột sống, hiếm khi mọc ở phía sau nên ít chèn ép vào tủy và rễ thần kinh. Bệnh gai cột sống khiến người bệnh rất khó chịu, nhất là cảm giác đau ở vùng thắt lưng, đau vai hoặc cổ do gai tiếp xúc với dây thần kinh, các xương đốt sống khi cử động, đau lan xuống cánh tay, tê chân tay, đôi khi làm giới hạn vận động. Người bệnh bị gai cột sống thường được điều trị bảo tồn bằng các thuốc giảm đau kháng viêm không steroid, thuốc giãn cơ hay sử dụng một số dụng cụ nâng đỡ như nẹp cổ… nhằm giảm bớt gánh nặng lên các đốt sống bị bệnh. Phẫu thuật chỉ đặt ra trong trường hợp có sự chèn ép vào tủy, làm hẹp ống tủy hoặc chèn ép hệ thần kinh và gây các dấu hiệu tê chân, tay, rối loạn đại tiểu tiện. Tuy nhiên, ngay cả khi phẫu thuật gai xương vẫn có thể mọc lại ở cùng vị trí cũ vì thực tế quá trình hình thành gai xương là một quá trình tự nhiên của cơ thể đối với phản ứng viêm.
Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013
Thuốc điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2

Thuốc điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2

Bệnh tiểu đường hay đái tháo đường là căn bệnh xảy ra rất phổ biến hiện nay đặc biệt là bệnh tiểu đường tuýp 2. Theo thống kê cứ 10 người mắc tiểu đường thì có tới 9 người bị loại tiểu đường type 2. Bên cạnh việc điều trị bằng thuốc uống thì bệnh nhân nên kết hợp với các loại thảo dược có tác dụng điều trị rất tốt đối với loại bệnh này. Sau đây là một số bài thuốc điều trị tiểu đường tuýp 2 từ các loại thảo dược mọi người nên tham khảo và đưa ra sự lựa chọn phương pháp điều trị phù nhất với sức khỏe của mình.

Mướp đắng: Thuốc điều trị tiểu đường tuýp 2 tốt nhất


Trong dân gian người ta còn gọi khổ qua là mướp đắng, khổ qua được dùng làm cây thuốc chữa bệnh tiểu đường type 2: mỗi ngày hãy uống một ly nước khổ qua. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng khổ qua không những giảm đáng kể lượng đường huyết trong máu mà còn có tác dụng chống lại các bệnh ung thư, tim mạch…
Có thể ép nước khổ qua uống hàng ngày hoặc rửa sạch ăn sống và kết hợp với các món ăn chính hàng ngày.

Quế: Vị thuốc chữa tiểu đường hiệu quả

Quế được xem là một trong những vị thuốc quý phòng và điều trị được rất nhiều bệnh trong đó có tiểu đường. Quế có thể nâng cao hiệu quả sử dụng insulin lên 3 lần

Một số bài thuốc điều trị tiểu đường tuýp 2

- Uống nước gạo lứt rang, hay nấu cám gạo lấy nước uống sau khi uống thuốc điều trị tiểu đường. Cám gạo đã được sàng sẩy hay cám còn trong gạo lứt đều có tác dụng nhạy bén insulin, giúp lượng đường huyết hạ nhanh gấp đôi bình thường.
- Dùng đóa hoa quỳnh trắng nở về đêm (phải tìm cho được đúng loại hoa quỳnh trắng nở về đêm) pha trà uống, thì sau khi uống với thuốc trị tiểu đường sẽ giúp lượng đường hạ giảm mau chóng.
- Hoa nhãn 30g, hầm với thịt nạc ăn.
- Rễ cây nhãn 30g, lòng lợn vừa đủ, hầm chín ăn ngày một lần, ăn bốn ngày liên tục.
- Lá nhãn (hái hướng đông) một nắm. Sắc uống ngày một thang.
- Rễ chuối 30g, giã nát vắt lấy nước cốt. Uống mỗi lần một chén.
- Mướp đắng 20g. Hãm nước uống hàng ngày.
- Mướp đắng 30g, nấm hương 6 – 10 cái, thịt nạc 30g. Nấu canh ăn.
- Râu ngô 60g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 – 3 lần uống trong ngày.
- Hẹ 20g, thịt ngao 100g, gia vị vừa đủ. Nấu chín, nêm gia vị, ăn thường xuyên rất tốt.
- Lá xoài khô 20g. Sắc uống. Do lá xoài khô có chất anthxyanhdin có tác dụng hạ đường huyết phòng các biến chứng ở mắt và mạch máu do đái tháo đường.
- Củ cải 30 – 50g, gạo tẻ 20g, linh chi 10g. Linh chi đem xay nhỏ, gói trong túi vải, sắc trước lấy nước. Nấu cháo bằng nước sắc này. Ngày ăn một lần.
- Thục địa 12g, cù mài 12g, sơn thù, đan bì, bạch linh mỗi vị 10g, thiên hoa phấ 12g. Sắc uống ngày một thang chia 2 – 3 lần/ ngày. Nếu đã có biến chứng nhiễm trùng thêm hoàng cầm 12g.
- Sinh địa, thạch cao mỗi vị 40g, thổ hoàng liên 16g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 – 3 lần uống trong ngày.
- Bí đao (đông qua, bí xạnh): 100g mỗi ngày nấu chín vắt lấy nước uống thường xuyên.
- Bí đao tươi 100g, rửa sạch, ép lấy nước uống hàng ngày.
- Rau cần tây 100g, nấu sôi, giã nát vắt nước uống hai lần/ ngày.
- Tô tử, lá cải củ sao qua tán bột mỗi lần uống 9g với nước sắc tang bạch bì. Trị chứng tiểu đường có phù.
- Củ mài 30g, bí đao 100g, lá sen 60g. Sắc nước uống ngày 1 – 2lần.
- Cà rốt tươi lượng vừa đủ, rửa sạch, ép lấy nước cốt uống hàng ngày.
- Hoa đậu ván trắng 30g, mộc nhĩ ssen 30g, sấy khô, tán thành bột mịn, mỗi ngày uống 2 – 3lần, mỗi lần 3 – 5g.
- Nhộng tằm 20 con, rửa sạch xào ăn bằng dầu thực vật.

Bài thuốc trị tiểu đường tuýp 2 từ dâm bụt

Tên khoa học: Hibiscus Rosa- sinensis. Họ bông (Malvaceae). Tên gọi khác: xuyên cận bì, bạch hoa, mộc cẩn căn. Cây mọc ở dưới chân núi nơi trẩng nắng, ven lộ, quanh vườn, đình, được trồng ở khắp nơi để làm hàng rào, bờ giậu.
Hoa hái từ tháng 7-10, loại bỏ tạp chất phơi hoặc sấy khô. Vỏ rễ hái vào mùa thu, rửa sạch phơi khô, xắt thành sợi.
Hoa dâm bụt có vị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, sát trùng, trị ngứa.
Liều dùng: hoa 6-12g. Vỏ rễ 3-10g.
Một số bài thuốc chữa tiểu đường:
Bài 1: Rễ dâm bụt tươi 30-60g. Sắc uống thay nước trà.
Bài 2: Rễ dâm btụ tươi 60g, thịt heo 60g, đăng tâm thảo 20g, hầm lấy nước uống.
Bài 3: Rễ dâm bụt tươi 15g, hoài sơn 30g. Sắc uống

Bài thuốc trị tiểu đường tuýp 2 từ vỏ dưa hấu

Tên khoa học: Citrullus Vulgaris Schrad. Họ Bầu Bí (Cucurbitaceae). Tên gọi khác: Thuỷ qua, tây qua bì.
Thu hái và chế biến vào mùa hạ. Dùng dao gọt lớp vỏ bên ngoài, phơi hay sây khô.
Vỏ dưa sau khi ăn xong dùng dao gọt bỏ lớp vỏ quả và lớp thịt quả, để riêng phơi khô. Khi dùng rửa sạch.
Tính năng: vị ngọt, tính hơi hàn, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giáng áp.
Liều dùng: 10-30g
Người bên trong có hàn thấp nhiều không nên dùng
Để chữa tiểu đường có thể áp dụng cách sau:
Vỏ dưa hấu, câu kỷ tử 30g, đẳng sâm 10g, sắc uống.

Bài thuốc chữa tiểu đường tuýp 2 từ rễ cây chuối già

Tên khoa học: Musa Paradisiaca. Họ chuối (Musaceae). Tên gọi khác: Ba tiêu đầu
Thu hái và chế biến: Đào rễ cây chuối già, dùng tươi hay thái phiến phơi khô.
Tính năng: Vị ngọt nhạt, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt lợi tiểu, lương huyết, tán ứ, chỉ thống, giáng áp.
Liều dùng: 30-120g
Người tuỳ vị hư nhược không đựơc dùng.
Một số bài thuốc chữa tiểu đường:
Bài 1: Rễ chuối già tươi 60g, mật ong vừa đủ. Đem rễ chuối già giã nát vắt lấy nước cốt hoà với mật ong uống, chia uống 3 lần trong ngày .
Bài 2: Rễ chuối già khô 30g, thiên hoa phấn 30g, sắc uống
Bài 3: Rễ chuối già tươi 150g, giã vắt lấy nước uống.
Bài thuốc điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2 từ lá ổi non
Tên khoa học: Psidium guỵava. Họ Sim (Myraceae). Tên gọi khác: phan đào diệp, phan cẩm diệp.
Thu hái và chế biến: Lá hái vào mùa hạ, thái nhỏ phơi khô hoặc sấy khô.
Quả: Hái lúc quả chín, ép lấy nước.
Tính năng: Vị ngọt chát, tính bình, có tác dụng thu liễm chỉ tả, tiêu viêm chỉ huyết, hạ đường huyết.
Liều dùng: Khô 10-15g, tươi 15-30g
Người tiêu chảy do nhiệt không được dùng
Chữa tiểu đường:
Bài 1: Lá ổi 30g ( tươi 50g), sắc uống thay nước trà
Bài 2: Lá ổi, lá bạch quả 15g, râu ngô 30g sắc uống
Bài 3: Quả ổi tươi ép lấy nước, mỗi lần uống 30ml, 2lần/ ngày.
Bài 4: Lá ổi non 50g, lá sa kê tươi 100g, trái đậu bắop tươi 100g. Nấu nwocs uống cả ngày.
Những điều cần biết về gai cột sống thắt lưng

Những điều cần biết về gai cột sống thắt lưng

Gai cột sống thắt lưng thường gặp ở tuổi trung niên, bệnh thường gây đau nhức khi vận động mạnh hay sai tư thế chức năng. Hãy cùng trigaicotsong.com tìm hiểu về bệnh lý này

Nguyên nhân gai cột sống thắt lưng
Gai cột sống thắt lưnvới các triệu chứng đau nhức thắt lưng cần phải được xác định rõ bệnh lý chính là thoái hóa đĩa đệm. Chính tổn thương thoái hóa đĩa đệm là nguyên nhân chính gây đau vùng thắt lưng.


Gai cột sống thắt lưng là một biểu hiện của thoát vị đĩa đệm

Khi lớp sụn đĩa đệm giữa các đốt sống bị mất hoặc giảm chức năng dẫn tới mâm đốt sống phải chịu lực quá tải, kết quả là hình thành các gai xương ngoài rìa thân đốt sống. Bệnh nhân bị gai cột sống thắt lưng thường có các biểu hiện đau nhức lan xuống chân, bệnh nặng có thể dẫn tới vẹo cột sống 1 bên, co rút cơ thắt lưng, làm giới hạn vận động.

Bình thường, sụn khớp được cấu tạo chủ yếu bởi collagen, nước và proteoglycan. Khi sụn của đĩa đệm bị thoái hóa, các tế bào sụn không còn hoặc chức năng suy giảm làm cho quá trình tái tạo lại sụn bị rối loạn, làm lực phân bổ trên thân đốt sống không đồng đều, khiến cho xương mâm đốt sống phải chịu tải cao hơn, dẫn đến hình thành các gai xương ở rìa ngoài thân đốt sống. Gai xương có hình thô và đậm đặc.

Điều đặc biệt là phì đại xương, dẫn đến hình thành các gai xương có thể xuất hiện ngay từ giai đoạn đầu của bệnh, kèm theo các thay đổi cấu trúc khớp khác như giảm chiều cao đĩa đệm liên đốt sống, mòn sụn và dày xương dưới sụn. Các thay đổi cấu trúc này có thể nhìn thấy rất rõ trên phim chụp Xquang cột sống thắt lưng thẳng và nghiêng.

Triệu chứng gai cột sống thắt lưng
Hầu hết bệnh nhân đều trải nghiệm về đau thắt lưng mức độ thấp và chịu đựng được dù thỉnh thoảng có cơn đau dữ dội kéo dài vài ngày. Đau cột sống thắt lưng có biểu hiện sau:

-Đau có thể tập trung ở giữa thắt lưng hay lan tỏa xuống háng hay chân.
-Đau có thể liên tục và kéo dài đến 6 tuần
-Gai cột sống thắt lưng thường đau nhiều hơn khi ngồi so với khi đứng, đi và nằm. Tuy nhiên khi đứng lâu cũng gây đau nhiều hơn, tương tự như khi khiêng vật nặng và khi khom người ra trước.
-Thường đau sẽ trầm trọng ở vài động tác đặc biệt như khom người ra trước, xoay cột sống và khi nâng vật nặng.

Khi đĩa đệm bị xẹp thì lỗ liên hợp nơi rễ thần kinh tủy sống chui qua bị hẹp lại có thể chèn ép rễ thần kinh gây tê bì hay yếu liệt phần cơ do rễ thần kinh chi phối, khi đó gọi là bệnh lý rễ thần kinh.

Điều trị và phòng ngừa gai cột sống thắt lưng
Nhìn chung, bệnh lý gai cột sống thắt lưng chính xác hơn là bệnh thoái hóa đĩa đệm là bệnh mãn tính, thường xảy ra ở tuổi trung niên, nhiều trường hợp gây đau nhức và hạn chế vận động làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Việc phát hiện sớm và điều trị là cần thiết, trước tiên cần điều trị bằng thuốc, tập vật lý trị liệu phù hợp với tình trạng bệnh lý. Để phòng ngừa gai cột sống thắt lưng cũng như để hạn chế tình trạng bệnh nặng hơn thì ta cần tìm hiểu và thực hiện đúng kỹ năng lao động cũng như các tư thế khi sinh hoạt để đảm bảo đốt sống và đĩa đệm luôn ở tư thế chức năng, hạn chế áp lực tác động vào đĩa đệm.

Copyright © 2014 All Right Reserved
Designed by